| |
Nỗi Buồn Tiếng Việt trích bài Chu Đậu
Ngôn ngữ thay
đổi theo thời gian, theo sinh hoạt xã hội. Mỗi ngày, từ
những đổi mới của đời sống, từ những ảnh hưởng của văn
minh ngoại quốc mà ngôn ngữ dần dần chuyển biến. Những
chữ mới được tạo ra, những chữ gắn liền với hoàn cảnh
sinh hoạ xưa cũ đã quá thời, dần dần biến mất. Cứ đọc
lại những áng văn thơ cách đây chừng năm mươi năm trở
lại, ta thấy nhiều cách nói, nhiều chữ khá xa lạ, vì
không còn được dùng hàng ngày. Những thay đổi này thường
làm cho ngôn ngữ trở nên sinh động hơn, giàu có hơn, tuy
nhiên, trong tiếng Việt khoảng mấy chục năm gần đây đã
có những thay đổi rất kém cỏi. Ban đầu những thay đổi
này chi giới hạn trong phạm vi Bắc vĩ tuyến 17, nhưng từ
sau ngày cộng sản toàn chiếm Việt Nam, 30 tháng tư năm
1975, nó đã xâm nhập vào ngôn ngữ miền Nam. Rồi, đau đớn
thay, lại tiếp tục xâm nhập vào tiếng Việt của người
Việt ở hải ngoại. Người ta thuận theo các thay đổi xấu
ấy một cách lặng lẽ, không suy nghĩ, rồi từ đó nó trở
thành một phần của tiếng Việt hôm nay. Nếu những thay
đổi ấy hay và tốt thì là điều đáng mừng; Nhưng than ôi,
hầu hết những thay đổi ấy là những thay đổi xấu, đã
không làm giầu cho ngôn ngữ dân tộc mà còn làm tiếng
nước ta trở nên tối tăm.
Thế nhưng dựa vào
đâu mà nói đó là những thay đổi xấu?
Nếu sự thay đổi
đưa lại một chữ Hán Việt để thay thế một chữ Hán Việt đã
quen dùng, thì đây là một thay đổi xấu, nếu dùng một chữ
Hán Việt để thay một chữ Việt thì lại càng xấu hơn. Bởi
vì nó sẽ làm cho câu nói tối đi. Người Việt vẫn dễ nhận
hiểu tiếng Việt hơn là tiếng Hán Việt. Nhất là những
tiếng Hán Việt này được mang vào tiếng Việt chỉ vì người
Tầu ở Trung Hoa bây giờ đang dùng chữ ấy. Nếu sự thay
đổi để đưa vào tiếng Việt một chữ dùng sai nghĩa, thì
đây là một sự thay đổi xấu vô cùng. Hãy duyệt qua vài
thay đổi xấu đã làm buồn tiếng Việt hôm nay:
1. Chất lượng:
Ðây là chữ đang
được dùng để chỉ tính chất của một sản phẩm, một dịch vụ.
Người ta dùng chữ này để dịch chữ quality của tiếng Anh.
Nhưng than ôi! Lượng không phải là phẩm tính, không phải
là quality. Lượng là số nhiều ít, là quantity. Theo Hán
Việt Tự Ðiển của Thiều Chửu, thì lượng là: đồ đong, các
cái như cái đấu, cái hộc dùng để đong đều gọi là lượng
cả. Vậy tại sao người ta lại cứ nhắm mắt nhắm mũi dùng
một chữ sai và dở như thế. Không có gì bực mình hơn khi
mở một tờ báo Việt ngữ ở hải ngoại rồi phải đọc thấy chữ
dùng sai này trong các bài viết, trong các quảng cáo
thương mãi. Muốn nói về tính tốt xấu của món đồ, phải
dùng chữ phẩm. Bởi vì phẩm tính mới là quality. Mình đã
có sẵn chữ phẩm chất rồi tại sao lại bỏ quên mà dùng chữ
‘chất lượng’. Tại sao lại phải bắt chước mấy anh cán ngố,
cho thêm buồn tiếng nước ta.
2. Liên hệ:
Cũng từ miền Bắc,
chữ này lan khắp nước và nay cũng tràn ra hải ngoại.
Liên hệ là có chung với nhau một nguồn gốc, một đặc tính.
Người cộng sản Việt Nam dùng chữ liên hệ để tỏ ý nói
chuyện, đàm thoại. Tại sao không dùng chữ Việt là ‘nói
chuyện’ cho đúng và giản dị. Chữ liên hệ dịch sang tiếng
Anh là ‘to relate to…’, chứ không phải là ‘to
communicate to…’
3. Ðăng ký:
Ðây là một chữ mà
người Cộng Sản miền Bắc dùng vì tinh thần nô lệ người
Tầu của họ. Ðến khi toàn chiếm lãnh thổ, họ đã làm cho
chữ này trở nên phổ thông ở khắp nước, Trước đây, ta đã
có chữ ghi tên (và ghi danh) để chỉ cùng một nghĩa.
Người Tầu dùng chữ đăng ký để dịch chữ ‘register’ từ
tiếng Anh. Ta hãy dùng chữ ghi tên hay ghi danh cho câu
nói trở nên sáng sủa, rõ nghĩa. Dùng làm chi cái chữ Hán
Việt kia để cho có ý nô lệ người Tầu?!
4. Xuất khẩu, Cửa
khẩu:
Người Tầu dùng chữ
khẩu, người Việt dùng chữ cảng. Cho nên ta nói xuất cảng,
nhập cảng, chứ không phải như cộng sản nhắm mắt theo Tầu
gọ là xuất khẩu, nhập khẩu. Bởi vì ta vẫn thường nói phi
trường Tân Sơn Nhất, phi cảng Tân Sơn Nhất, hải cảng Hải
Phòng, giang cảng Saigon, thương cảng Saigon. Chứ không
ai nói phi khẩu Tân Sơn Nhất, hải khẩu Hải Phòng, thương
khẩu Saigon trong tiếng Việt. Khi viết tin liên quan đến
Việt Nam, ta đọc bản tin của họ để lấy dữ kiện, rồi khi
viết lại bản tin đăng báo hay đọc trên đài phát thanh
tại sao không chuyển chữ (xấu) của họ sang chữ (tốt) của
mình, mà lại cứ copy y boong?
5. Khả năng:
Chữ này tương
đương với chữ ability trong tiếng Anh, và chỉ được dùng
cho người, tức là với chủ từ có thể tự gây ra hành động
động theo chủ ý. Tuy nhiên hiện nay ở Việt nam người ta
dùng chữ khả năng trong bất kỳ trường hợp nào, tạo nên
những câu nói rất kỳ cục. Ví dụ thay vì nói là ‘trời hôm
nay có thể mưa’, thì người ta lại nói: ‘trời hôm nay có
khả năng mưa’, nghe vùa nạng nề, vừa sai.
6. Tranh thủ:
Thay vì dùng một
chữ vừa rõ ràng vừ giản dị là chữ ‘cố gắng’, từ cái tệ
sính dúng chữ Hán Việt của người cộng sản, người ta lại
dùng một chữ vừa nặng nề vừa tối nghĩa là chữ ‘tranh
thủ’. Thay vì nói: ‘anh hãy cố làm cho xong việc này
trước khi về’, thì người ta lại nói: ‘anh hãy tranh thủ
làm cho xong việc này trước khi về’.
7. Khẩn trương:
Trước năm 1975
chúng ta đã cười những người lính cộng sản, khi họ dùng
chữ này thay thế chữ ‘nhanh chóng’. Nhưng than ôi, ngày
nay vẫn còn những người ở Việt Nam (và cả một số người
sang Mỹ sau này) vẫn vô tình làm thoái hóa tiếng Việt
bằng cách bỏ chữ ‘nhanh chóng’ để dùng chữ ‘khẩn
trương’. Ðáng lẽ phải nói là: ‘Làm nhanh lên’ thì người
ta nói là: ‘làm khẩn trương lên’.
8. Sự cố, sự cố kỹ
thuật:
Tại sao không dùng
chữ vừa giản dị vừa phổ thông trước đây như ‘trở ngại’
hay ‘trở ngại kỹ thuật’ hay giản dị hơn là chữ ‘hỏng’?
(Nói ‘xe tôi bị hỏng’ rõ ràng mà giản dị hơn là nói ‘xe
tôi có sự cố’)
9. Tham quan:
đi thăm, đi xem
thì nói là đi thăm, đi xem cho rồi tại sao lại phải dùng
cái chữ này của người Tầu?! Sao không nói là ‘Tôi đi Nha
Trang chơi’, ‘tôi đi thăm lăng Minh Mạng’, mà lại phải
nói là ‘tôi đi tham quan Nha Trang’, ‘tôi đi tham quan
lăng Minh Mạng’.
10. Nghệ nhân:
Ta vốn gọi những
người này là ‘nghệ sĩ’. Mặc dù đây cũng là tiếng Hán
Việt, nhưng người Tầu không có chữ nghệ sĩ, họ dùng chữ
nghệ nhân. Có những người tưởng rằng chữ nghệ nhân cao
hơn chữ nghệ sĩ, họ đâu biết rằng nghĩa cũng như vậy, mà
sở dĩ người cộng sản Việt Nam dùng chữ nghệ nhân là vì
tinh thần nô lệ Trung Hoa.
11. Chuyển ngữ:
Ðây là một chữ mới,
xuất hiện trên báo chí Việt Nam ở hải ngoại trong vài
năm gần đây. Trước đây chúng ta đã có một chữ giản dị
hơn nhiều để tỏ ý này. Ðó là chữ dịch, hay dịch thuật.
Dịch tức là chuyển từ một ngôn ngữ này sang một ngôn ngữ
khác. Ðoàn Thị Ðiểm dịch Chinh Phụ Ngâm Khúc của Ðặng
Trần Côn Phan Huy Vịnh dịch Tỳ Bà Hành của Bạch Cư Dị,
Nguyễn Hiến Lê dịch Chiến Tranh Và Hòa Bình của Leon
Tolstoi v.v.. Người viết ở hải ngoại bây giờ hình như có
một mặc cảm sai lầm là nếu dùng chữ dịch thì mình kém
giá trị đi, nên họ đặt ra chữ ‘chuyển ngữ’ để thấy mình
oai hơn. Chữ dịch không làm cho ai kém giá trị đi cả,
chữ ‘chuyển ngữ’ cũng chẳng làm giá trị của ai tăng thêm
chút nào. Tài của dịch giả hiện ra ở chỗ dịch hay, dịch
đúng mà thôi. Chứ đặt ra chữ mới nghe cho kêu không làm
tài năng tăng lên chút nào, hơn nữa nó còn cho thấy sự
thiếu tự tin, sự cầu kỳ không cần thiết của người dịch.
12. Tư liệu:
Trước đây ta vốn
dùng chữ tài liệu, rồi để làm cho khác miền nam, người
miền bắc dùng chữ ‘tư liệu’ trong ý: ‘tài liệu riêng của
người viết’. Bây giờ những người viết ở hải ngoại cũng
ưa dùng chữ này mà bỏ chữ ‘tài liệu’ mặc dù nhiều khi tà
liệu sử dụng lại là tài liệu đọc trong thư viện chứ
chẳng phải là tài liệu riêng của ông ta.
13. Những danh từ
kỹ thuật mới:
Thời đại của điện
tử, của computer tạo ra nhiều danh từ kỹ thuật mới, hay
mang ý nghĩa mới. Những danh từ này theo sự phổ biến
rộng rãi của kỹ thuật đã trở nên thông dụng trong ngôn
ngữ hàng ngày. Hầu hết những chữ này có gốc từ tiếng
Anh, bởi vì Hoa Kỳ là nước đi trước các nước khác về kỹ
thuật. Các ngôn ngữ có những chữ cùng gốc (tiếng Ðức,
tiếng Pháp…) thì việc chuyển dịch trở nên tự nhiên và rõ
ràng, những ngôn ngữ không cùng gốc, thì người ta địa
phương hóa những chữ ấy mà dùng. Riêng Việt Nam thì làm
chuyện kỳ cục là dịch những chữ ấy ra tiếng Việt (hay
mượn những chữ dịch của người Tầu), tạo nên một mớ chữ
ngây ngô, người Việt đọc cũng không thể hiểu nghĩa những
chứ ấy là gì, mà nếu học cho hiểu nghĩa thì khi gặp
những chữ ấy trong tiếng Anh thì vẫn không hiểu. Ta hãy
nhớ rằng, ngay cả những người Mỹ không chuyên môn về
điện toán, họ cũng không hiểu đích xác nghĩa của những
danh từ này, nhưng họ vẫn cứ chỉ biết là chữ ấy dùng để
chỉ các vật, các kỹ thuật ấy, và họ dùng một cách tự
nhiên thôi. Vậy tại sao ta không Việt hóa các chữ ấy mà
phải mất công dịch ra cho kỳ cục, cho tối nghĩa. Ông cha
ta đã từng Việt hóa biết bao nhiêu chữ tương tự, khi
tiếp xúc với kỹ thuật phương tây cơ mà. Ví dụ như ta
Việt hóa chữ ‘pomp’ thành ‘bơm’ (bơm xe, bơm nước), chữ
‘soup’ thành ‘xúp’, chữ ‘phare’ thành ‘đèn pha’, chữ
‘cyclo’ thành ‘xe xích lô’, chữ ‘manggis’ (tiếng Mã Lai)
thành ‘quả măng cụt’, chữ ‘durian’ thành ‘quả sầu riêng’,
chữ ‘bougie’ thành ‘bu-gi, chữ ‘manchon’ thành ‘đèn măng
xông’, chữ ‘boulon’ thành ‘bù-long’, chữ ‘gare’ thành
‘nhà ga’, chữ ‘savon’ thành ‘xà bông’… Bây giờ đọc báo,
thấy những chữ dịch mới, thì dù đó là tiếng Việt, người
đọc cũng vẫn không hiểu như thường. Hãy duyệt qua một
vài danh từ kỹ thuật bị ép dịch qua tiếng Việt Nam , như:
a. Scanner dịch thành ‘máy quét’. Trời ơi! ’máy quét’
đây, thế còn máy lau, máy rửa đâu?! Mới nghe cứ tưởng là
máy quét nhà!
b. Data Communication dịch là ‘truyền dữ liệu’.
c. Digital camera dịch là ‘máy ảnh kỹ thuật số’.
d. Database dịch là ‘cơ sở dữ liệu’. Những người Việt đã
không biết database là gì thì càng không biết ‘cơ sơ dữ
liệu’ là gì luôn.
e. Sofware dịch là ‘phần mềm’, hardware dịch là ‘phần
cứng’ mới nghe cứ tưởng nói về đàn ông, đàn bà. Chữ
‘hard’ trong tiếng Mỹ không luôn luôn có nghĩa là ‘khó’,
hay ‘cứng’, mà còn là ‘vững chắc’ ví dụ như trong chữ
‘hard evident’ (bằng chứng xác đáng)… Chữ soft trong chữ
‘soft benefit’ (quyền lợi phụ thuộc) chẳng lẽ họ lại
dịch là ‘quyền lợi mềm’ sao?
f. Network dịch là ‘mạng mạch’.
g. Cache memory dịch là ‘truy cập nhanh’.
h. Computer monitor dịch là ‘màn hình’ hay ‘điều phối’.
i. VCR dịch là ‘đầu máy’ (Như vậy thì đuôi máy đâu? Như
vậy những thứ máy khác không có đầu à?). Sao không gọi
là VCR như mình thường gọi TV (hay Ti-Vi). Nếu thế thì
DVD, DVR thì họ dịch là cái gì?
j. Radio dịch là ‘cái đài’. Trước đây mình đã Việt hóa
chữ này thành ra-đi-ô hay radô, hoặc dịch là ‘máy thu
thanh’. Nay gọi là ‘cái đài’ vừa sai, vừa kỳ cục. Ðài
phải là một cái tháp cao, trên một nền cao (ví dụ đài
phát thanh), chứ không phải là cái vật nhỏ ta có thể
mang đi khắp nơi được. k. Chanel gọi là ‘kênh’. Trước
đây để dịch chữ TV chanel, ta đã dùng chữ đài, như đài
số 5, đài truyền hình Việt Nam … gọi là kênh nghe như
đang nói về một con sông đào nào đó ở vùng Hậu Giang!
Ngoài ra, đối với
chúng ta, Saigon luôn luôn là Saigon, hơn nữa người dân
trong nước vẫn gọi đó là Saigon . Các xe đò vẫn ghi bên
hông là ‘Saigon – Nha Trang’, ‘Saigon – Cần Thơ’… trên
cuống vé máy bay Hàng Không Việt Nam người ta vẫn dùng 3
chữ SGN để chỉ thành phố Saigon . Vậy khi làm tin đăng
báo, tại sao người Việt ở hải ngoại cứ dùng tên của một
tên chó chết để gọi thành phố thân yêu của chúng mình?!
Ði về Việt Nam tìm đỏ mắt không thấy ai không gọi Saigon
là Saigon, vậy mà chỉ cần đọc các bản tin, các truyện
ngắn viết ở Hoa Kỳ ta thấy tên Saigon không được dùng
nữa. Tại sao?
Ðây chỉ là một vài
ví dụ để nói chơi thôi, chứ cứ theo cái đà này thì chẳng
mấy chốc mà người Việt nói tiếng Tầu luôn mất! Tất nhiên,
vì đảng cộng sản độc quyền tất cả mọi sinh hoạt ở Việt
nam, nên ta khó có ảnh hưởng vào tiếng Việt đang dùng
trong nước, nhưng tại sao các nhà truyền thông hải ngoại
lại cứ nhắm mắt dùng theo những chữ kỳ cục như thế?! Cái
khôi hài nhất là nhiều vị trong giới này vẫn thường nhận
mình là giáo sư (thường chỉ là giáo sư trung học đệ nhất
cấp (chưa đỗ cử nhân) hay đệ nhị cấp ở Việt Nam ngày
trước, chứ chẳng có bằng Ph.D. nào cả), hay là các người
giữ chức này chức nọ trong các hội đoàn tự cho là có
trách nhiệm về văn hóa Việt Nam ở ngoài nước!
Trước đây Phạm
Quỳnh từng nói: ‘Truyện Kiều còn thì tiếng ta còn, tiếng
ta còn thì nước ta còn’, bây giờ Truyện Kiều vẫn còn mà
cả tiếng ta lẫn nước ta lại đang đi dần xuống hố sâu Bắc
Thuộc. Than ôi!
|
|
| |
Tiếng Việt Vô Danh
Tôi tình cờ quen một anh bạn Mỹ, người Mỹ chính cống,
mắt xanh mũi lõ, tên Johnson William, quê ở bang Ohio của xứ Cờ Hoa
nhưng Johnson đã hơn 16 năm sinh sống ở Việt Nam, nghiên cứu về dân tộc
học Ðông Nam Á, nói tiếng Việt thông thạo, phát âm theo giọng Hà Nội khá
rõ, hắn học tiếng ở Ðại học Ngoại ngữ Hà Nội rồi làm Master of Art về
văn hóa xã hội Việt Nam ở học Khoa học Tự nhiên Sài gòn, rành lịch sử
Việt Nam, thuộc nhiều câu thơ lục bát trong truyện Kiều của thi hào
Nguyễn Du, Lục Vân Tiên của cụ Ðồ Chiểu. Johnson ăn mặc xuyền xoàng, cái
đầu rối bù, chân mang một đôi giày bata cũ mèm, lưng quảy một ba lô lếch
thếch, sẵn sàng ăn uống nhồm nhoàng ngoài vỉa hè. Johnson có thể quanh
năm suốt tháng ăn cơm với chuối thay cho bánh mì và phomát, xịt nước
tương vào chén rồi cứ thế mà khua đũa lùa cơm vào miệng. Ðối với
Johnson, thịt rùa, rắn, ếch, nhái, chuột đồng, ... hắn xơi ngon lành.
Bún riêu là món khoái khẩu của Johnson, hắn còn biết thèm hột vịt lộn ăn
với rau răm chấm muối tiêu chanh. Ai có mời đi chén thịt cầy
với mắm tôm, Johnson chẳng ngần ngại mà còn biết vỗ đùi đánh cái phét
khen rượu đế mà nhắm với thịt chó ngon "thần sầu quỉ khốc" !!
Chẳng biết Johnson khéo tán tỉnh thế nào (hoặc bị tán) mà vớ được một cô
bé Hà thành tóc "đờ-mi gác-xông", sinh viên ngành văn chương hẳn hoi.
Ngày cưới, Johnson vận áo dài khăn đóng, dâng trầu cau và quì lạy bàn
thờ tổ tiên nhà gái thành thạo làm đám thanh niên, thiếu nữ, cả lũ con
nít và mấy ông cụ ông, cụ bà trong làng suýt xoa, kinh ngạc, xúm đen xúm
đỏ coi muốn sập nhà.
Chúng tôi gặp nhau trên chuyến xe lửa từ Nha Trang ra Huế. Tôi về thăm
quê, còn Johnson thì sau mấy tháng nghiên cứu phong tục Tây nguyên xuống
Nha Trang rồi tiếp đi dự Festival Huế. Ðường dài, tàu chạy dằn xóc,
chung quanh ồn ào, lao nhao chẳng ai ngủ được. Johnson rủ tôi xuống toa
ăn uống, kêu mỗi người một ly cà phê đen, một bình trà nóng rồi trao đổi
đủ thứ chuyện trên đời. Tôi cũng khá thán phục sự hiểu biết và thành
thạo văn hóa Việt Nam của Johnson khi nghe hắn thỉnh thoảng chêm vô câu
chuyện mấy câu ca dao, thành ngữ tiếng Việt. Thật thú vị khi nói chuyện
với một người Mỹ bằng tiếng Việt về đề tài ngôn ngữ Việt Nam (dễ chịu
hơn nhiều khi khi nó chuyện với một người Mỹ bằng... tiếng Anh). Vậy mà
Johnson vẫn lắc đầu than:
- Tiếng Việt của mấy ông rắc rối quá! Tôi học đã lâu mà vẫn còn lúng
túng, nhiều lúc viết sai, nói sai lung tung cả lên. Này nhé, từ xưng hô,
ăn uống, giao tiếp... thật lắm từ khác nhau chẳng đơn giản như tiếng Mỹ
của tớ, chỉ một từ you là để nói với tất cả người đối thoại, tiếng Việt
thì phân biệt ông, bà, anh, chị, em, con, cháu, ngài, mày, thầy, thằng,
... rành mạch. Tiếng Mỹ thì dùng một chữ black để chỉ tất cả những vật
gì, con gì có màu đen trong khi đó tiếng Việt thì khác, ngựa đen thì gọi
là ngựa ô, chó đen thì kêu là chó mực, mèo đen thì gọi là mèo mun, gà
đen thì là gà quạ, bò đen là bò hóng, mực đen là mực tàu, tóc đen thì
hóa thành tóc nhung hoặc tóc huyền. Ðã là màu đen rồi mà người Việt còn
nhấn mạnh thêm mức độ đen như đen thủi, đen thui, rồi
đen tuyền, đen thắm, tím đen, đen ngắt, đen bóng, đen sì, đen đủi, đen
thẳm, đen óng, đen thùi lùi, đen kịt, đen dòn... Còn để chỉ màu ít đen
hơn thì người Việt dung chữ đen hai lần: đen đen.
Tôi cười cười:
- Thì tiếng Mỹ của ông nhiều lúc cũng rắc rối kia mà. Này nhé, người
Việt nói: "Hôm qua, tôi đi tiệm" thì người Mỹ lại nói "Yesterday, I went
to the shop". Tiếng Anh, đi là go, nhưng đã đi (quá khứ) thì phải viết
là went. Bản thân chữ hôm qua (yesterday) đã là quá khứ rồi thì ai cũng
biết mà gì cần phải đổi go thành went chi cho rối mấy người học Anh văn?
Nội chuyện học thuộc lòng 154 động từ bất qui tắt của mấy ông cũng đủ
làm nhiều người trên thế giới phải thi rớt lên rớt xuống. Người Việt nói
hai con chó mà chẳng cần thêm s hoặc es thành hai con chó "sờ" (two
dogs) như tiếng Mỹ. Một đứa con nít thì nói là one child là được rồi,
vậy mà thêm một đứa nữa thì bắt đầu rối, chẳng phải là two childs mà
thành two children. Một con ngỗng là one goose, hai con ngỗng thì thành
two geese. Vậy mà viết một con cừu là one sheep nhưng hai con cừu thì
cũng là two sheep, chẳng chịu đổi gì cả ?!.
Johnson vẫn không chịu thua:
- Văn phạm của xứ ông cũng rắc rối bỏ xừ! Xem nè, thắng và thua là hai
chữ phản nghĩa chứ gì? Thua và bại là hai chữ đồng nghĩa, đúng hông? Vậy
mà, hai câu nói: "Ngô Quyền đánh thắng quân Nam Hán" đồng nghĩa với câu
"Ngô Quyền đánh bại quân Nam Hán"? Không thể viết là "Ngô Quyền đánh
thua quân Nam Hán"!!! Phải không nào? Rồi còn, "áo ấm" tương đương với "áo
lạnh", "nín thinh" giống như "làm thinh" trong khi ấm và lạnh phản nghĩa
nhau, nín và làm cũng là những động từ đối nhau. Rồi ba hồi mấy ông dùng
tiếng Hán như Quốc gia rồi đổi thành tiếng Nôm ra Nhà nước, Trực thăng (có
thể không cần chữ máy bay phía trước) thành Máy bay Lên thẳng (phải có
chữ máy bay phía trước), Thủy quân lục chiến thì đổi là Lính thủy đánh
bộ, sao không gọi luôn là lính nước đánh đất??? Lễ động thổ thì không
thể sửa lại là Lễ động đất mặc dầu là thổ là đất?
Tôi tiếp tục "ăn miếng trả miếng":
- Tiếng Mỹ cũng đâu có tránh khỏi. See và look cũng đều là động từ để
cùng chỉ hành động xem, nhìn, ngắm, dòm nhưng oversee (quan sát, trông
nom) lại ngược nghĩa overlook (bỏ sót, không nhìn thấy). Wise man là
người thông thái, uyên bác, vậy mà thay chữ man (đàn ông) thành woman (đàn
bà) thì chữ wise woman thành bà phù thủy, bà đỡ bà lang, bà thầy bói, bà
đồng bóng!!! Rồi chữ man và guy (anh chàng, gã) gần gần như nhau thì chữ
wise guy thành một kẻ hợm hĩnh, khoác lác. Sao lại "park on driveways" (đậu
xe trên đường nội bộ) nhưng "drive on parkways" (lái xe trên xa lộ)?
Johnson ôm bụng cười:
- Tên món ăn Việt Nam cũng lạ, miền Nam có bánh da lợn, tưởng làm bằng
thịt lợn nhưng thực chất là bằng bột, có lẽ giống như các lớp da lợn,
nhưng sao không gọi là bánh da heo theo từ miền Nam mà gọi theo chữ lợn
miền Bắc? Bánh bò cũng chắng có miếng thịt bò nào. Bánh tiêu thì không
rắc tiêu mà lại rắc mè. Gọi rau má mà chẳng liên quan đến má hay mẹ gì
cả. Bánh tét mà gói thật chặt, chẳng thể nào tét được. Bánh dày thì lại
mỏng hơn bánh chưng. Bánh chưng thì phải nấu thật lâu mới chín chứ không
phải dùng cách chưng hơi hay chưng hấp. Nước lèo trong nồi hủ tiếu thì
chẳng phải theo kiểu nước Lào (hay Lèo). Trái sầu riêng thì ăn vô chẳng
thấy sầu riêng hay sầu chung chi cả. Bưởi Năm roi rất tuyệt nhưng sao
đúng là năm roi? Trái vú sữa, Cây dái ngựa thì thật là tượng hình. Hi
hi... Ngôn từ bây giờ cũng thế, cò đất, cò nhà... thì chẳng dính dáng gì
đến "con cò, cò bay lả, lả bay la..." cả.
Tôi cũng chẳng vừa:
- Thế cái món hot dog của mấy ông có liên quan gì đến con chó không? Món
bánh mì kẹp thịt bò băm Hamburger của Mc Donald thì đâu có thịt heo
(ham). Trái thơm, trái khóm "pineapple" thì chẳng có gì liên quan đến
pine (cây thông) và apple (trái táo) cả? Vào phòng thí nghiệm sinh học,
ông Giáo sư bảo bắt một con "Guinea pig", nghe qua tưởng đâu là con heo
xứ Guinea (ở Tây Phi Châu, giáp với Senegal, Mali, Liberia, Sierra Leone
và biển Bắc Ðại Tây dương) nhưng ngờ đâu là một giống chuột tên là
Guinea (ở Guinea không có giống chuột này!). Ðáng lý chữ football (bóng
đá) thì phải viết là legball chứ, bởi vì người ta đá banh bằng cả cái
chân (leg) chứ đâu chỉ cái ống chân foot từ dưới đầu gối đến trên bàn
chân? Mới đây, khi dân Pháp không chịu ủng hộ Mỹ trong vụ chiến tranh
Iraq thế là mấy dân biểu Mỹ giận đòi đổi tên món khoai tây chiên French
fries bằng chữ American fries thì mấy ông Tây lại ôm bụng cười chế riễu
rằng món French fries không phải xuất xứ từ Pháp mà từ ... Mỹ và là món
ăn của dân Mỹ. Có lẽ mấy ông Mỹ tiền bối xưa, khi
làm món này đặt tên là khoai tây Pháp cho nó có vẻ ... ngoại cho sang,
giống như bây giờ một số quán ăn Việt Nam có thực đơn Lẫu Thái, Bún
Singapore, Bánh bao Mã lai, Cá chiên viên Singapore, Hủ tiếu Nam Vang,
... mặc dầu nguyên liệu và cách nấu gần như 100% của Việt Nam???
Johnson gật gù:
- Ừ, cũng đúng. Nhưng lúc đầu học tiếng Việt, tôi thấy khó quá, đã lấy
24 chữ cái A, B, C của vần La tinh rồi mà bày ra thêm a, â, ă, u, ư, ơ,
d, đ, ... nữa. Lại thêm kèm 5 dấu sắc ('), huyền (`), hỏi (?), ngã (~),
nặng (.) và không dấu ( ) nữa. Như le, lé, lè, lẹ, lẻ, lẽ, mỗi chữ mang
một nghĩa khác nhau. Rồi phải học cách bỏ dấu ở đâu trong từ cho chính
xác nữa chứ. Hòa hay là hoà. Li hay là ly? Có câu thơ về dấu này cũng
hay:
Chị Huyền mang nặng ngã đau,
Sao không sắc thuốc, hỏi sao cho lành ?!
Trong ngôn ngữ Việt Nam, tôi thấy nhiều chữ ghép với chữ ăn mặc dầu nó
chẳng ăn nhập đến chuyện bỏ thực phẩm vào miệng, nhai và nuốt xuống gì
cả. Nói ăn nhậu, ăn tiệc, ăn mùng, ăn cưới, ăn giỗ, ... thì có lý nhưng
sao lại ăn nằm, ăn hút, ăn tiền, ăn lương, ăn cắp, ăn mày, ăn chặn, ăn
quỵt, ăn diện, ăn đòn, ăn công, ăn năn, ăn hiếp, ăn khách, ăn ảnh, ...
Tôi bật cười chận ngang khi Johnson tiếp tục ghép chữ với từ ăn:
- Thì như tiếng Mỹ của ông vậy thôi. Chữ to get khó dịch gì ra hồn cả.
Tôi cũng có nghĩ là khi mình chưa tìm ra động từ nào thích hợp thì dùng
tạm luôn chữ to get! Khi quân đội Mỹ bắt sống được Saddam Hussen ở Iraq
thì tuyên bố "We got him!", sao không dùng động từ to catch, to caught,
to force, to find, to capture, to pick up, ...cho rõ nghĩa? Rồi động từ
to get đi kèm các giới từ in, into, on, out, up, at-able... thành một
loạt động từ mới. Các động từ to take, to put, to be... cũng vậy.
Johnson chuyển qua phần khác:
- Chuyện mạo từ tiếng Việt cũng làm rắc rối người nước ngoài. Người Việt
nói cái bàn, cái nhà, cái gường, cái nón... nhưng không thể nói cái chó,
cái mèo mà phải là con chó, con mèo, con người.... Ðồ vật là cái, động
vật là con. Bây giờ nhiều cô cậu thanh niên Hà Nội thay vì nói cái xe
Honda Dream thì lại dùng từ con Ðờ-rim, rồi tiếp là con Su (Suzuki), con
a còng (@), con Tô (Toyota), con Mẹc (Mercedes)...
Vợ chồng tôi có chuyện vui thế này: Tôi quen vợ tôi, một phần vì yêu các
cô gái Việt Nam, một phần cũng để trau dồi thêm tiếng Việt. Hôm hôm
chúng tôi ra Hồ Gươm dạo chơi, tôi khen: "Con hồ này đẹp quá!". Vợ tôi "chỉnh"
liền: "Không, anh phải nói là cái hồ này đẹp quá!". Vậy mà đi ngang sông
Tô Lịch thấy nước đen ngòm, tôi nói: "Cái sông này bẩn quá!" thì vợ tôi
"sửa" ngay: "Ậy, anh phải nói là con sông này bẩn quá chứ không nói là
cái sông!". Tôi la lên: "Ồ, sao lại thế, khi là cái, khi là con, làm sao
phân biệt?". Vợ tôi ôn tồn giải thích: "Cái gì động dậy, nhúc nhích thì
gọi là con, như con sông có nước chảy, còn cái gì nằm im như cái hồ nuớc
tĩnh mịch thì phải là cái hồ. Con chó, con mèo nó chạy được nên phải là
con. Cái nhà, cái bàn, cái cột đèn
đâu có di chuyển được nên phải là cái. Rõ chửa?". Lúc đó, tôi phá lên
cười vì phát hiện một điều vô cùng thú vị: "À, anh hiểu rồi! Tiếng Việt
thật hay. Hèn gì cái... cái của anh nó nhúc nhích lên xuống nên phải gọi
là con ..., còn của... em, nó nằm im một chỗ nên phải gọi là cái, cái...
Ha ha...". Hôm ấy, tôi bị mấy cái nhéo đau điếng, nhưng bù lại, có được
một đêm hạnh phúc.
Tôi thấy tức cười vô cùng với anh bạn Mỹ này:
- Tôi cũng có chuyện hiểu lầm trong phát âm tiếng Mỹ như thế này.
Trong một bữa tiệc với các sinh viên quốc tế, tôi nhận phần phục vụ nước
uống. Gặp bà giáo người Mỹ đã đứng tuổi, tôi đến chào lịch sự và nói
theo kiểu cách theo kiểu của người Việt: "Good evening, Madam. May I
have a honour to serve you? Do you like my Coke?" (Chào bà, Tôi có thể
hân hạnh phục vụ quí bà. Bà có muốn món Coke (Coca Cola)?). Bà này trợn
mắt nhìn tôi, ra vẻ ngạc nhiên, rồi lắc đầu bỏ đi. Tôi băn khoăn chẳng
hiểu chuyện gì?
Hôm sau, tôi đánh bạo đến hỏi bà: "I am sorry, yesterday I have found
your strange look when hearing my invitation. Was there a wrong?" (Xin
lỗi, hôm qua tôi thấy bà nhìn tôi kỳ lạ khi nghe lời mời của tôi. Có
điều gì không ổn vậy?). Bà giáo mỉm cười độ lượng: "Yes, I had
misunderstood yours. Today, I just find out that your pronunciation is
not correct. You said "Coke" not sound like "Coke" but "Cock". Cock is a
male chicken but it also has a dirty
meaning else. You should be careful when saying this word to a lady". (Vâng,
tôi đã hiểu lầm anh. Hôm nay, tôi mới hiểu ra là anh phát âm không đúng.
Anh nói chữ "Coke" mà không giống "Coke" mà thành "Cock". Cock là con gà
trống nhưng nó cũng có một nghĩa khác xấu. Anh phải cẩn thận khi nói từ
này với một phụ nữ).
Johnson "gỡ gạt":
- Hi hi... Anh bạn người Việt dẫn tôi đến thăm nhà, đến trước ngôi nhà
của mình anh nói: "Ðây là nhà tôi, mời ông vào chơi", gặp vợ anh ta ra
đón trước cửa, anh ta lại giới thiệu: "Ðây là nhà tôi, mời ông vào chơi".
Tôi hơi ngạc nhiên nhưng cũng không hỏi và bước vào nhà, nhà anh ta thật
đẹp (vợ anh ta cũng vậy!). Tôi ra lịch sự nên khen chủ nhà và nói: "Nhà
anh và nhà anh thật đẹp". Hai vợ chồng nhìn nhau cười. Vì đi lâu ngoài
đường, lại không có WC công cộng, nên tôi hỏi anh chủ nhà "Xin ông cho
tôi vào cái chỗ đi toilet của nhà ông được không?" Hi hi... lúc đó tôi
không nghĩ đến cái sự buồn cười của câu này, hôm sau nghĩ lại tôi mới
thấy.
Tôi cười to kể tiếp:
- Lần đầu tiên sang Châu Âu cách đây 10 năm, tôi quen một cô sinh viên
Hà Lan. Chúng tôi nói chuyện với nhau bằng tiếng Anh. Cô rủ tôi ra bãi
biển nằm phơi nắng và nói chuyện. Hôm đó, tôi chẳng đem theo cái gì để
trải xuống bãi cát để nằm cả. Nói với cô này, thì cô mỉm cười: "Oh,
never mind. You can lie down at my top" (Ồ, không sao. Anh có thể nằm
trên cái top của tôi). Tiếng Anh của tôi cũng chẳng giỏi gì nên chẳng
hiểu là nằm trên top là nằm ở đâu? Tôi chỉ biết top có nghĩa là đỉnh, là
ở trên. Vậy nằm ở trên là nằm đâu? Nằm trên đầu thì chắc là không đúng
rồi, ai lại nằm trên đầu mà nói chuyện với phụ nữ. Chẳng lẽ nằm trên...
mình cô này? Hồi lúc trước đi Tây, tôi nghe nhiều thằng bạn kháo nhau
rằng, phụ nữ Tây nó... Tây lắm, thích thì sẵn sàng... chiều! "Tình cho
không biếu không" mà. Vậy là... lẽ nào ??? Tới nơi, tôi mới bật cười và
thấy mắc cỡ trong lòng khi thấy cô này cởi áo khoác ra, trải dưới bãi
cát và chỉ tôi nằm trên đó. Tối đó, về đến nhà, tôi lặng lẽ lật từ điển
Anh - Việt ra xem, mới biết thêm là top còn có nghĩa là cái áo khoác
ngoài của phụ nữ. Trời ơi!
Johnson vỗ vai tôi:
- Chút xíu nữa bạn là... hố to rồi. Ha ha... Năm ngoái, tôi có đến thăm
miệt vườn Nam bộ, tôi có nghe một câu thế này mà lúc đó chẳng thế nào
hiểu được: "Hôm qua, qua nói qua qua mà qua hổng qua. Hôm nay, qua hổng
nói qua mà qua lại qua".................
Câu chuyện của chúng tôi còn dài. Chia tay với Johnson ở ga Huế. Lững
thửng dọc theo con đường về chợ Ðông Ba, trong đầu còn vương vấn câu
chuyện rắc rối tiếng Việt với Johnson, ông già chạy xích lô lẽo đẽo theo
sau:
- "Ôn đi về mô khôn hè?"
Tôi gật đầu, bước lên chiếc xe cũ rích, buộc miệng:
- Có tiệm sách nào gần đây nhất, Bác? Tôi muốn mua một quyển Tự điển
Tiếng Việt.
Tôi bất chợt nhớ ra rằng, trong tủ sách gia đình của tôi, có đủ loại tự
điển các nước, nhưng chưa hề có một quyển Tự điển Tiếng Việt nào. |
|